Lịch sử tranh kính  cổ đại đến ngày nay

Lịch sử tranh kính cổ đại đến ngày nay

Notre Dame de Paris 1 cropped
i. tranh kính thời trung cổ

Những bức tranh kính sơ khai được phát hiện làm ở Ai Cập và có niên đại thế kỷ thứ II trước Công nguyên. Đến thế kỷ thứ I, người Roman đã biết sử dụng kính làm cửa sổ để lấy ánh sáng. Hàng nghìn năm nay kính và kính màu đều được chế từ chất silicat lấy từ cát, trộn lẫn đá vôi cộng thêm các phụ gia như muối rồi đem luyện ở nhiệt độ gần 3000oC. Để kính có màu sắc khác nhau người ta cho thêm các chất oxit kim loại khác nhau vào hỗn hợp kính nóng chảy trong quá trình luyện kính. Màu sắc quyết định giá thành của kính bởi giá trị của các chất oxit mà người ta trộn trong kính rất khác nhau. Xưa kia cũng như hiện nay những tấm kính màu đắt tiền nhất luôn luôn là màu đỏ, vàng, vàng cam và màu đỏ tía. Khởi thuỷ của tranh kính là các tác phẩm kim hoàn, kết hợp giữa kính với vàng, do các thợ kim hoàn làm ra. Sau này người ta dùng các khung sắt để gắn các mảnh kính lại với nhau và nhờ đó tranh kính mới có cơ hội ứng dụng rộng rãi với kích thước lớn hơn. Hiện nay người ta vẫn còn lưu giữ được một số chi tiết kính màu đơn sơ từng được sử dụng để trang trí nhà thờ Thánh Martin ở Tours, làm vào thế kỷ thứ IV sau công nguyên.

sainte-martin-tours-1

sainte-martin-tours-2

Hình 1, 2: Các tác phẩm kính ghép màu trên cửa sổ nhà thờ Thánh Martin, Tours, nước Pháp

Đến thế kỷ thứ X thì tranh kính cửa sổ mới bắt đầu được coi là một lĩnh vực nghệ thuật, nhưng chủ yếu chỉ phục vụ cho các công trình kiến trúc Ki-tô giáo. Những bức tranh kính hoành tráng có khả năng toả sáng nhờ ánh sáng tự nhiên đã tạo nên vẻ đẹp lộng lẫy và huyền bí, tăng thêm bội phần không khí linh thiêng cho các thánh đường. Bởi vậy ngay từ thời trung cổ nghệ thuật tranh kính màu được coi là một bộ phận không thể thiếu trong việc truyền bá Ki-tô giáo và được coi là công trình do Chúa Trời sáng tạo ra. Dấu tích của năm bức tranh kính trên các cửa sổ nhà thờ Augsburg Cộng hoà liên bang Đức được coi là những bằng chứng cổ nhất (làm vào thế kỷ thứ X), có giá trị nhất đối với lịch sử nghệ thuật tranh kính còn sót lại đến hôm nay, mô tả khuôn mặt của các nhà tiên tri trong kinh thánh.

ii. tranh kính với kiến trúc gothic

 

Nghệ thuật tranh kính chỉ thực sự phát triển vào thế kỷ thứ XII với sự ra đời một trường phái kiến trúc mới. Suger, vị linh mục cai quản nhà thờ Saint Denis ở Paris (1122 – 1151) là người có công khởi xướng nền nghệ thuật tranh kính. Ông là bạn tâm phúc của vua Louis VI và Louis VII. Nhờ được các vị hoàng đế cấp tiến ủng hộ nên Suger đã mạnh dạn cải tiến kiến trúc nhà thờ Thiên Chuá giáo một cách căn bản. Sự thay đổi này đã mở ra một dòng kiến trúc lẫy lừng, trường phái Gothic, kéo theo đó là nghệ thuật tranh kính, một bộ phận gắn bó hữu cơ với kiến trúc Gothic. Chỉ không đầy một thế kỷ sau hàng trăm công trình Gothic đã nối tiếp mọc lên khắp châu Âu, mà linh hồn và điểm nhấn quan trọng nhất lại chính là các công trình bằng kính – những chiếc cửa sổ lộng lẫy, có những bức có độ cao trên hai mươi mét, làm choáng ngợp con người. Đáng tiếc, cuộc cách mạng Pháp đã phá huỷ hầu hết những tác phẩm tranh kính có giá trị nhất của nhà thờ Saint Denis. Nhưng Saint Denis đã thực hiện được sứ mệnh quan trọng là mở ra một kỷ nguyên kiến trúc mới huy hoàng và kéo theo đó là sự phát triển rực rỡ của dòng nghệ thuật tranh kính và kỹ nghệ sản xuất kính màu.

 

Hình 3: Kính ghép màu trong nhà thờ Saint Denis

Sau này vào thời kỳ nước Anh bị người Normandy chiếm đóng nghệ thuật tranh kính cũng đã được truyền bá sang Anh. Những tác phẩm tranh kính nổi tiếng mà ngày nay chúng ta còn thấy được ở Toà giáo hội Trưởng lão ở xứ York có niên đại năm 1150 là do chính các nghệ nhân của Pháp làm ra. Chẳng bao lâu sau các công trình kiến trúc Gothic và tranh kính màu đã xuất hiện ở và phát triển huy hoàng ở Đức và xứ Fleming. Trước thế kỷ XII tranh kính chỉ có kích thước nhỏ bởi kiến trúc của các nhà thờ Ki-tô chủ yếu theo phong cách Byzantium và Roman, được liên kết bằng những bức tường dày, có nhiều cột lớn chịu lực đỡ các mái vòm hoặc khung tò vò đồ sộ. Kỹ thuật mái vòm của Gothic cho phép giảm bớt sức chịu lực đè lên các bức tường mà nhờ đó có thể mở rộng tối đa các khoảng rỗng để đón nhận ánh sáng tự nhiên và cũng là cơ hội để tranh kính phát huy hết cỡ công năng của mình. Bức tranh kính màu lớn nhất của thế kỷ XII là những tấm kính vẽ màu được gắn bằng những thanh sắt thẳng. Sang thế kỷ XIII các thợ rèn bắt đầu tạo được những khung đỡ hình tròn và hình chữ nhật khổ lớn. Những chiếc cửa sổ hình tròn đặc trưng được bố trí xen kẽ các khối đá hộc đã góp phần làm cho các khối đá trở nên nhẹ nhàng, tao nhã. Loại cửa này được phổ biến rất nhanh và sau này được gọi là những chiếc cửa sổ “hoa hồng”, vì chúng có dáng dấp như những bông hoa khổng lồ đang nở. Chiếc cửa sổ “hoa hồng” tại nhà thờ Đức Bà Paris được coi là những chiếc cửa sổ bằng tranh kính nổi tiếng nhất, hoàn hảo nhất. Kiến trúc Gothic có thể được coi là một cuộc thử nghiệm về lòng can đảm, khích lệ châu Âu mạnh dạn từ bỏ quá khứ Trung Cổ để bước vào giai đoạn Phục Hưng. Những nghệ nhân của nghệ thuật tranh kính có được những cơ hội mới để sáng tạo ra cả một thiên đường tranh kính màu mới. Điển hình vô song cho nền nghệ thuật tranh kính giai đoạn này là nhà thờ Chartes ở Pháp. Không biết bằng cách nào các nghệ nhân làm kính đã chế tạo ra được những tấm kính với chất liệu hoàn toàn mới, có khả năng thẩm thấu toàn bộ ánh sáng tự nhiên từ bên ngoài, và nhờ sự khúc xạ đặc biệt mà các bức tranh kính khổng lồ này có được hiệu ứng quang học hoàn toàn khác thường, huyền ảo và hài hoà đến mức mà trước đó người ta chỉ dám ước mơ. Rất nhiều tác phẩm bất hủ đã được sáng tạo trong giai đoạn này, nhưng do chiến tranh, nạn đói kém và dịch bệnh triền miên nên đến nay chỉ còn lưu lại được một số ít.

 

 

Hình 4: Cửa sổ ‘hoa hồng’ trên cửa Nam nhà thờ Đức Bà Paris

iii. cuộc cách tân vĩ đại của nghệ thuật tranh kính trong thời kỳ phục hưng

Bước sang thế kỷ XV, thời đại Trung Cổ đã phải kết thúc để nhường chỗ cho thời đại Phục Hưng. Nghệ thuật tranh kính nhờ đó cũng bùng nổ cùng với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt phát triển tại Italy và Bắc Âu. Vào giữa thế kỷ XV Jan Van Eyck, một hoạ sĩ tiêu biểu cho chủ nghĩa hiện thực đã tạo nên một cuộc cách mạng trong nghệ thuật tranh kính, đưa nghệ thuật tạo hình vào các tác phẩm tranh kính do ông chủ trì thực hiện. Lần đầu tiên các hoạ sĩ thay thế cho các nghệ nhân trong việc thiết kế và chỉ đạo thực hiện các bức tranh kính. Tranh kính giai đoạn này từ chỗ chỉ là các tác phẩm thủ công nay được coi là các tác phẩm nghệ thuật. Các hình khối, đặc biệt là hình ảnh con người trong các công trình nghệ thuật được thể hiện bằng kỹ thuật sáng tối tao nhã của hội hoạ. Các lớp men màu phủ lên kính đã được cải tiến, trong trẻo hơn. Với việc xuất hiện Phong trào Cải cách ở châu Âu vào thế kỷ XVI, khi những người Calvin phản ứng lại sự áp bức của những người Tây Ban Nha và vua Henry VIII bắt đầu tấn công và tàn phá các nhà thờ Gia-tô, thì hàng trăm kiệt tác kính màu theo đó cũng bị phá huỷ. Hơn một thế kỷ người ta không còn nghĩ đến việc làm tranh kính. Công nghệ sản xuất kính màu bị thất truyền. Kỹ nghệ làm tranh kính bị lãng quên. Mãi đến năm 1644 nghị viện Anh mới bắt đầu nghĩ đến việc phục chế lại bức Đức Mẹ đồng trinh đã bị phá huỷ trước đó. Khi người ta sực tỉnh và ý thức được nhu cầu bảo tồn giá trị nghệ thuật tranh kính thì công nghệ làm kính màu gần như đã bị thất truyền. Trong tay hậu thế chỉ còn lại những mảnh kính màu bẩn thỉu, sứt sẹo. Không chỉ có các công trình kiến trúc Ki-tô giáo sử dụng tranh kính màu mà sau này trường phái kiến trúc Baroque cũng tận dụng tối đa công năng trang trí của kính màu. Trào lưu sử dụng kính trắng để lấy ánh sáng ở Pháp trong thế kỷ XVIII phải chịu trách nhiệm trong việc phá bỏ các tác phẩm kính màu ở các công trình kiến trúc tín ngưỡng và dân dụng, nhưng rất may mắn là những tác phầm tranh kính quý giá nhất đã được chuyển sang Vương quốc Anh và được bảo quản cho đến hôm nay. Tại Anh quốc một phong trào phục chế tranh kính màu xuất hiện. Đến thế kỷ IXX một số tác phẩm tranh kính kiểu Gothic vẫn được áp dụng vào kiến trúc ở Anh.

iv. kính màu opal

tiffany_education_center

Hình 5: Một trong những tác phẩm theo chủ đề tôn giáo của nghệ nhân Tiffany (Mỹ)

Sự phồn thịnh xa hoa của xã hội công nghiệp tại Hoa Kỳ vào thế kỷ IXX đã liên tục làm thay đổi khẩu vị và phong cách kiến trúc, lối ăn mặc và sinh hoạt con người. Phong cách Gothic đã được hồi sinh tại Hoa Kỳ nhằm đề cao vẻ đồ sộ và phồn vinh cho các công trình kiến trúc mang đậm sắc thái Phục Hưng mà người ta thường gọi là trường phái Tân Cổ điển. Những toà nhà kiểu lâu đài thời Phục Hưng mọc lên như nấm được trang hoàng dày đặc các tác phẩm tranh kính. Những tác phẩm bằng kính này không giống với xuất xứ của nó mà sặc mùi vị khác thường kiểu Mỹ. Một dòng kính màu mới lạ được người Mỹ sáng chế, được các nghệ sĩ đương thời như Tiffany, La Farge, D. Maitland Armstrong sử dụng, có tên gọi là kính opal, hoặc kính mờ đục. Khác với các loại kính cổ điển, kính Opal có khả năng phản chiếu các tia khúc xạ của ánh sáng theo một lối rất đặc biệt. Nhờ trộn lẫn các thành phần thuỷ tinh đục nhờ nhờ lẫn các thành phần thuỷ tinh trong suốt có nhiều vân xoáy nên loại kính Opal này rất thích hợp cho các khối kiến trúc ốp đá hoa cương và cẩm thạch. Nó đã đươc các nhà kiến trúc và thiết kế nội thất ở Mỹ đón chào nồng nhiệt. Mặc dù các cửa sổ sử dụng kính Opal có độ cản quang lớn hơn so với kính màu cổ điển, nhưng nhờ thế nó lại tạo được vẻ lung linh huyền ảo khác thường, tôn những yếu tố nội thất cầu kỳ và phô trương của trường phái nghệ thuật Tân cổ điển. John La Farge là nhà thiết kế đầu tiên ứng dụng kính Opal cho cửa sổ và nhận được bằng sáng chế vào ngày 24 tháng 2 năm 1880. Tiếp theo đó là Louis Comfort Tiffany nhận được một loạt bằng sáng chế quan trọng liên quan đến việc ứng dụng và sản xuất các loại kính Opal đặc biệt và nhờ thế ông đã trở thanh người tiên phong – nghệ sĩ – kỹ nghệ gia lỗi lạc nhất trong lĩnh vực tranh kính và công nghệ sản xuất kính màu, mở ra một lĩnh vực nghệ thuật tranh kính và pha lê màu hoàn toàn mới, được lưu truyền và ca tụng cho đến ngày nay.

v. tranh kính của thế kỷ xx và xxi( VINHCOBA người viết tiếp lịch sử tranh kính trên thế giới )

Nghệ thuật tranh kính cuả thế kỷ XX và XXI phụ thuộc vào xu thế phát triển của ngành kiến trúc hiện đại.Vào cuối thế kỷ xx(1990) nghệ nhân phạm Hồng Vinh( vinhcoba )quê hà đông, sau hai chục năm nghiên cứu đã sáng tạo ra dòng tranh kính siêu bền mang tên vinhcoba .

với công nghệ nhiện đại, kết hợp với đôi bang tay nghệ nhân đã tạo ra dòng tranh nhà thờ siêu bền. Tranh vinhcoba khắc phục các nhược điểm của các dòng tranh trước nó. đặc điểm tranh vinhcoba là thể hiện nghệ thuật điêu khắc trên kính tấm liền, sau đó người ta vẽ màu( dạng sơn dầu ) lên tranh, cả hai công đoạn này đều làm ngược.Sau khi vẽ màu hoàn chỉnh bức tranh được đưa vào là nung ở nhiệt độ thủy tinh nóng chảy. bức tranh trở lên bề vĩnh cửu.Hình ảnh thánh sử hiện hữu giống với tự nhiên, Màu sắc rất đẹp. Hiện nay vinhcoba còn mới lạ với các nhà thờ . Nhưng không bao lâu nữa , dòng tranh vinhcoba sẽ lan tỏa khắp thế giới bởi tính chất ưu việt của nó .

vinhcoba

Viết bình luận: